Excerpt for Không quê nhà. Bên hồ Sils và hồ Garda (Johanna Spyri) by , available in its entirety at Smashwords

Không quê nhà. Bên hồ Sils và hồ Garda


Published by H. Giang at Smashwords


Copyright 2017 H. Giang





Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

Chương 21





Chương 1

Trong ngôi nhà tĩnh lặng


Nằm ở vùng thượng của thung lũng Engadin, kề bên con đường lớn đi lên phía đèo Maloja là một ngôi làng nhỏ đơn độc mang tên Sils. Rời khỏi đường lớn, đi chéo qua làng, và ở phía đằng sau, rất gần với những ngọn núi, ta bắt gặp một chốn nhỏ xinh tên là Sils-Maria. Tại đây có hai căn nhà nhỏ được xây đối diện nhau, hơi tách sang một bên cánh đồng. Cửa ra vào cả hai nhà đều làm bằng gỗ, đã rất xưa cũ, mấy cửa sổ bé xíu thì nằm phía sâu trong tường. Một trong hai căn nhà có khoảnh vườn trồng toàn các loại rau họ cải, ngoài ra còn đặt thêm bốn chậu hoa, tuy nhiên trông chúng khẳng khiu và lớn nhanh chẳng khác gì đám rau. Căn nhà còn lại chỉ có độc một cái chuồng con con cạnh cửa, với hai cô gà mái quanh ra quanh vào. Nó nhìn khá khiêm tốn so với căn kia, cánh cửa gỗ sạm đen lại vì năm tháng.

Từ sau cánh cửa này, sáng nào cũng vào một giờ nhất định, luôn có một người đàn ông cao lớn bước ra - người phải cúi xuống mới đi qua cửa được. Người đàn ông cao lớn có mái tóc đen bóng, mắt đen, dưới chiếc mũi thanh tú còn tọa lạc thêm bộ râu đen, xum xuê đến nỗi chẳng thể trông thấy gì khác trên phần còn lại của gương mặt người này ngoài hàm răng trắng sáng lóe lên giữa bộ râu mỗi khi anh nói; song, anh lại rất ít khi mở lời. Ai ai ở làng Sils cũng biết anh, nhưng không người nào gọi anh bằng một cái tên, mà với họ, anh chỉ là "anh người Ý". Anh thường đi con đường hẹp chếch về hướng làng Sils và lên phía đèo Maloja. Ở đó có nhiều công trình được xây dựng bên đường lớn, cũng là chỗ anh làm việc. Khi không đi lên phía trên, anh sẽ xuống khu nghỉ dưỡng St. Moritz; tại đấy, người ta xây nhà xây cửa, còn anh thì cũng tìm được việc để làm. Anh lưu lại chỗ ấy cả ngày, chỉ quay về ngôi nhà nhỏ vào buổi tối. Thông thường, mỗi lần anh bước ra khỏi cửa, luôn có một cậu bé ở đằng sau anh; cậu bé đứng trên bậu cửa, lúc cha đã ở bên ngoài, dõi theo cha một hồi lâu bằng đôi mắt to, sẫm màu, hoặc nhìn đi đâu đó, chẳng ai đoán được, bởi có cảm giác như đôi mắt sẫm màu ấy vượt lên tất cả mọi cảnh vật ở trước mặt và hướng đến một thứ gì đó không ai có khả năng nhìn thấy.

Vào những chiều chủ nhật mặt trời tỏa nắng, thỉnh thoảng hai cha con lại ra khỏi nhà, cùng sánh bước trên con đường dẫn lên ngôi làng. Và nếu quan sát họ lúc này, ta sẽ chỉ thấy những nét giống hệt nhau, có chăng những nét đó được thu nhỏ lại ở cậu con trai mà thôi, còn thì cậu bé như được đúc khuôn từ người cha, từ chân lên tới tận bộ râu đen - thứ cậu không có, thay vào đó là một khuôn mặt hẹp, tai tái với chiếc mũi thanh tú ở giữa, quanh miệng phảng phất nét buồn rầu như thể cậu chẳng thích cười. Riêng điểm này thì không thấy được ở người cha, vì bộ râu đã che mất rồi.

Khi đi cạnh nhau, hai cha con không trao đổi lời nào; thường thường, người cha khẽ lẩm nhẩm một bài hát, đôi khi ngâm nga lớn hơn một chút, còn cậu con trai thì lắng nghe. Nếu ngày chủ nhật trời mưa, người cha sẽ ngồi trong nhà, trên chiếc ghế dài bên cửa sổ, cậu bé con ngồi bên, cả hai cũng lại không trò chuyện gì. Tuy nhiên, người cha sẽ rút ra một chiếc kèn hác-mô-ni-ca, thổi hết giai điệu này tới giai điệu khác, cậu bé say sưa lắng nghe. Cũng có lúc, anh tạo ra những giai điệu từ một chiếc lược hay lá cây, lại có khi cưa một mẩu gỗ theo hình dạng nào đấy, rồi dùng nó để thổi một khúc nhạc. Tưởng chừng như chẳng có vật gì anh không thể biến thành nhạc cụ được vậy. Nhưng có lần, anh đem về nhà một cây vĩ cầm, thứ khiến cậu bé thích mê đến mức sẽ chẳng bao giờ có thể quên được. Người cha đã kéo nhiều bản nhạc, nhiều giai điệu bằng cây vĩ cầm ấy, còn cậu bé - khác với mọi khi - ngắm nhìn cảnh tượng đó, chứ không chỉ lắng nghe; tới lúc cha đặt cây đàn sang một bên, cậu liền khẽ khàng cầm lấy, thử xem làm thế nào tạo ra được những giai điệu từ cây đàn. Cậu chắc đã chơi không tồi chút nào, vì người cha đã nở nụ cười và bảo: "Lại đây con!", đoạn, anh đặt những ngón tay to lớn của bàn tay trái lên những ngón tay nhỏ nhắn của đứa con, tay phải anh nắm lấy tay con cùng với cây vĩ, thế rồi suốt một hồi khá lâu, hai cha con đã cùng nhau tấu lên vô số giai điệu. Những ngày sau, cứ khi cha đi làm là cậu bé lại miệt mài tập cho tới khi hình thành nên được một giai điệu hoàn chỉnh; nhưng tới một ngày, cây đàn đột nhiên biến mất, chẳng bao giờ còn thấy lại nữa.

Thỉnh thoảng, vào những lúc hai cha con ngồi cạnh nhau như thế, người cha lại hát, tiếng hát ban đầu chỉ nho nhỏ, rồi cứ lớn dần lên, một khi anh đã nhập tâm. Thế là cậu bé cũng hòa giọng, những câu nào không thể hát theo được, cậu bé vẫn ngâm nga nhạc; đó là do cha cậu luôn hát tiếng Ý, cậu hiểu được khá nhiều nhưng ngôn ngữ ấy cậu lại không thực sự quen thuộc và thành thạo để hát. Tuy vậy, có một giai điệu cậu bé hát được hay hơn mọi giai điệu khác, bởi cha đã hát cho cậu nghe không biết bao lần. Nó thuộc về một bài hát dài được bắt đầu như thế này: "Una sera In Peschiera" - Nó là một giai điệu đầy hoài niệm, được sáng tác cho bản tình ca thú vị đó, cậu bé đặc biệt yêu thích nó nên luôn hát theo một cách hào hứng và tuyệt đối nhập tâm, giai điệu vang lên rất hay, bởi vì cậu có một chất giọng cao, trong veo, hòa trộn tuyệt vời với giọng nam trầm mạnh mẽ của người cha. Lần nào cũng vậy, khi bài hát kết thúc, người cha luôn vui vẻ vỗ vai cậu và bảo: "Bene, Enrico, va bene." Chỉ mình anh gọi cậu bé như vậy thôi, còn mọi người đều gọi một cách đơn giản là "Rico".

Hồi đó, trong ngôi nhà nhỏ còn có một người bác sống cùng hai cha con cậu bé, bác may vá, nấu nướng và giữ cho nhà cửa ngăn nắp. Mùa đông, bác ngồi bên lò sưởi quay sợi, Rico những lúc ấy luôn phải tính cách đi lại làm sao cho ổn, vì hễ cứ mở cửa ra là bác lại nói: "Để cái cửa được yên đi, trong phòng sẽ lạnh lắm đấy." Cậu bé thường xuyên phải ở nhà một mình với bác trong thời gian dài. Mùa này, người cha làm việc đâu đó dưới thung lũng và không trở về hàng tuần liền.



Chương 2

Ở trường học.


Rico sắp lên chín, cậu bé đã đi học qua hai mùa đông rồi, bởi lẽ ở vùng núi, trẻ con được nghỉ học vào mùa hè; thời gian đó, thầy giáo phải cày bừa, gặt hái như tất cả mọi người khác, chẳng ai có thời gian cho trường học cả. Tuy nhiên, điều này không khiến Rico buồn phiền nhiều, cậu biết cách tự mình vui chơi mà.

Buổi sáng, mỗi lần đứng trên bậu cửa, cậu bé sẽ đứng nguyên như thế, mơ màng nhìn ra bên ngoài mà không hề nhúc nhích, cậu bé có thể đứng vậy hàng giờ nếu cánh cửa bên phía nhà đối diện không mở ra và có một cô bé xuất hiện, nhìn sang, cười với cậu; thế là Rico sẽ chạy vội qua chỗ cô bé, hai đứa trẻ lại có biết bao chuyện để kể cho nhau kể từ lần gặp cuối cùng vào tối hôm trước, trước khi Stineli bị gọi vào nhà. Stineli là tên của cô bé, cô bé bằng tuổi Rico; hai đứa đã bắt đầu đi học cùng một lúc, học với nhau trong cùng một lớp, mà từ trước đó chúng vốn đã luôn chơi cạnh nhau rồi, bởi giữa hai căn nhà chỉ là một con đường hẹp, chúng lại là bạn thân nhất của nhau nữa. Rico cũng chỉ bầu bạn duy nhất với cô bé, cậu chẳng có hứng thú chơi với những đứa con trai khác, mỗi lần lũ con trai đánh lộn, vật nhau, chổng ngược đầu nhau lên là cậu bỏ đi, không thèm ngoái lại. Nhưng nếu chúng hô hào: "Giờ hãy tẩn cho thằng Rico một trận nào!" thì cậu sẽ đứng im, giữ thẳng người và không làm gì hết; song, đôi mắt sẫm màu của cậu nhìn chúng theo một cách rất lạ lùng, khiến không một đứa nào dám động đến cậu. Ngược lại, cậu rất vui vẻ khi ở bên Stineli. Cô bé có cái mũi con hếch lên, đôi mắt nâu luôn biết cười, trên đầu tết hai bím tóc nâu dày trông rất gọn gàng, vì Stineli là một bé gái tươm tất và biết cách tự chăm lo cho bản thân; thêm vào đó, cô bé ngày ngày cũng được rèn luyện trong một môi truờng phù hợp. Stineli còn chưa tròn chín tuổi nhưng lại là đứa con lớn nhất trong nhà và phải phụ giúp mẹ luôn, mà ở nhà thì có khối việc cần làm. Sau Stineli còn có em Trudi, Sami, Peterli, Urschli, Anne-Deteli, Kunzli, rồi cả em út mới sinh nữa. Tiếng gọi Stineli lúc nào cũng vang lên không ngớt từ đủ mọi hướng trong nhà, và cô bé thì cực kì nhanh nhẹn, cứ như thể đôi tay tự động làm hết mọi việc vậy. Cô bé luôn đi xong ba chiếc tất, buộc xong dây hai chiếc giày cho mấy đứa em, trước cả khi Trudi xỏ được hai chân của một đứa em khác vào giày. Hễ có tiếng các em ở trong phòng cũng như tiếng mẹ ở trong bếp cùng réo gọi Stineli là liền ngay sau sẽ đến lượt cha kêu tên cô bé từ phía chuồng nuôi, cha đã để mũ ở đâu đó hoặc là dây roi đã bị thắt nút, Stineli phải phụ cha một tay, ấy là vì cô bé lúc nào cũng tìm thấy cái mũ ngay lập tức, nó vẫn thường nằm trên hộp đựng thức ăn, và rồi những ngón tay khéo léo sẽ gỡ nút thắt chiếc dây roi ra. Stineli luôn bận rộn túi bụi, nhưng lúc làm việc, cô bé vẫn rất vui vẻ, tươi tỉnh; trong mùa đông thì cô bé thích đi học, khi ấy sẽ được cùng tới trường rồi cùng trở về với Rico, đi cạnh nhau trong cả giờ giải lao. Hè đến, cô bé cũng thấy vui, vì sẽ có những buổi chiều tối chủ nhật thú vị được ra ngoài dạo chơi; cô bé sẽ cùng Rico - đã đứng chờ trước cửa nhà cậu từ lâu rồi - tay trong tay chạy băng qua đồng cỏ rộng lớn để tới ngọn đồi phủ đầy cây cối trải dài vào tận hồ nước hệt một hòn đảo. Hai đứa trẻ ngồi trên đồi, dưới những tán thông, nhìn xuống mặt hồ xanh biếc và kể cho nhau, hỏi han nhau đủ thứ; quãng thời gian ấy đối với chúng thật tuyệt vời, nó khiến Stineli hồ hởi cả tuần, vượt qua được tất cả mọi chuyện, vì rồi chủ nhật bao giờ cũng lại đến thôi.

Ở trong ngôi nhà nhỏ còn có một người khác hay gọi tìm Stineli, ấy là bà cô bé. Thế nhưng, bà cụ gọi không phải để nhờ cô bé giúp mình việc gì mà để đưa cho cô bé đồng Blutzger bà nhặt được hoặc một thứ gì đó khác, bởi lẽ Stineli là đứa cháu bà rất yêu quí và bà hiểu hơn ai hết rằng cô cháu gái của mình đã phải làm biết bao nhiêu việc ở cái tuổi ấy, nhiều hơn phần đông những đứa trẻ. Thế nên, bà cụ muốn tặng cô cháu ít tiền để cô bé cũng có thể mua cho mình thứ gì đó ở chợ phiên hàng năm giống những đứa trẻ khác, ví như một chiếc vòng tết đeo tay màu đỏ hay một ống kim nhỏ xinh. Bà cũng đối xử rất tốt với Rico, bà thích nhìn thấy hai đứa ở cạnh nhau, thỉnh thoảng bà có làm giúp Stineli vài việc nhà để cô cháu có thể ở ngoài chơi với Rico lâu hơn chút.

Vào những buổi tối mùa hè, bao giờ bà cũng ngồi trên khúc cây trước nhà; Stineli và Rico thường đứng quanh, nghe bà cụ kể chuyện này chuyện kia. Mỗi khi tiếng chuông cầu nguyện bắt đầu ngân lên từ phía tháp, bà cụ đều bảo: "Tới giờ các cháu phải cầu nguyện rồi đấy, các cháu không được phép quên rằng hàng tối mình đều phải cầu nguyện đâu nhé; chuông được gióng lên chính là để nhắc nhở chúng ta."

"Hai đứa biết không", cứ thi thoảng bà lại nhắc lại, "bà sống đã lâu lắm rồi, đã chứng kiến nhiều chuyện, và bà không biết có bất cứ ai sống cả cuộc đời mà chưa từng cần đến một lời cầu nguyện cả, song bà biết có những người trong giờ phút nguy khốn đã hoảng sợ kiếm tìm một lời cầu nguyện nhưng không thành." Rồi sau đó, Stineli cùng Rico sẽ đứng thật yên lặng và cầu nguyện.

Tháng Năm đã tới, những ngày đi học chỉ còn kéo dài thêm một thời gian ngắn nữa thôi, không thể hơn được, vì cỏ đã mọc xanh rì dưới những gốc cây và nhiều đoạn dài trên các con đường cũng đã sạch tuyết. Rico đứng ở cửa quan sát khung cảnh này được một lúc rồi. Cậu bé đồng thời không ngừng ngó chừng sang phía cánh cửa đối diện, xem nó còn đóng hay không. Và rồi cửa mở, Stineli chạy vụt ra.

"Cậu đứng thế lâu rồi hả? Lại thấy ngỡ ngàng phải không, Rico?", cô bé vừa nói vừa cười. "Này, hôm nay trời vẫn còn sớm, chúng mình có thể từ từ mà đi."

Hai đứa nắm tay nhau cất bước đến trường.

"Cậu vẫn luôn nghĩ đến hồ nước ấy sao?", Stineli hỏi. "Ừ", Rico cam đoan với vẻ mặt nghiêm túc, "thỉnh thoảng tớ còn mơ về nó nữa, tớ thấy những đóa hoa màu đỏ rất lớn mọc bên hồ, ở phía đối diện là những ngọn núi phủ toàn một màu tím."

"Ôi, một giấc mơ thì lại không thể là sự thật được", Stineli hào hứng nói; "có lần tớ cũng nằm mơ thấy Peterli một mình trèo lên cây lãnh sam cao nhất, rồi khi nó ngồi trên cành cây ở trên cùng thì ở đó chỉ còn mỗi một chú chim đậu lại, nó gọi với xuống: 'Chị Stineli, đi tất vào cho em đi!' Đấy, cậu xem, cái đó chẳng thể có nghĩa gì hết."

Rico đang phải suy nghĩ rất lung xem thế tức là sao, vì giấc mơ của cậu vẫn có khả năng mang một ý nghĩa nào đấy, nó chỉ đơn giản là giống với một chuyện cậu đang nhớ lại được. Nhưng giờ hai đứa đã gần tới trường rồi, cả một toán trẻ con đang ồn ào tiến đến từ phía còn lại. Tất cả ùa vào phòng học cùng lúc, không lâu sau đó, thầy giáo cũng có mặt. Thầy đã lớn tuổi, tóc bạc và thưa, bởi thầy theo nghề dạy học từ tận thủa nào rồi, đến mức những sợi tóc trên đầu thầy đều bạc đi và đã rụng bớt nhiều. Đầu tiên là giờ học Đánh vần và Tách âm căng thẳng, sau tới tiết học Bảng cửu chương, cuối cùng đến giờ Âm nhạc. Trong giờ nhạc, thầy giáo lấy ra cây vĩ cầm cũ, chỉnh đàn, sau đấy, giờ học bắt đầu và lũ học trò mở giọng hết cỡ: "Chú cừu non lững thững - Đi xuống từ ngọn đồi đầy nắng", còn thầy giáo thì kéo đàn.

Rico hiện đang nhìn ngắm cây vĩ cầm cùng những ngón tay của thầy giáo, quan sát cái cách thầy chạm vào những sợi dây đàn mê mải đến mức quên khuấy đi cả việc hát hò và im bặt luôn. Cả đám học trò bỗng nhiên bị rớt xuống nửa nốt nhạc, tiếng đàn cũng chung chiêng và rớt theo, tiếng hát còn thấp xuống thêm nữa, chẳng thể đoán được liệu còn rớt đến đâu,... nhưng tới đây, thầy giáo liền quăng cây vĩ cầm xuống bàn, giận dữ nói lớn: "Hát hò thế đấy ư! Một lũ chỉ biết gào thét không suy nghĩ! Tôi mà tìm ra ai đã hát sai và phá hỏng hết bài hát thì liệu hồn!"

Một thằng bé nhỏ con ngồi kế bên Rico lên tiếng: "Em biết tại sao lại vậy rồi ạ, lần nào Rico dừng hát cũng đều thế cả.”

Ngay chính thầy giáo cũng không hẳn không nhận ra rằng tiếng đàn sẽ ổn định nhất khi có Rico cùng hòa giọng.

"Ôi Rico, Rico, thầy đang phải nghe điều gì thế này", thầy nghiêm giọng, hướng về cậu bé. "Bình thường em là học trò gương mẫu, nhưng sự mất tập trung lại là một lỗi lớn, em vừa thấy hậu quả rồi đấy. Chỉ một người không chú ý thôi có thể phá hỏng hết cả bài hát. Giờ chúng ta sẽ bắt đầu lại, nhớ để tâm vào, Rico!"

Giọng Rico cất lên rõ ràng, chắc khỏe, tiếng vĩ cầm bắt nhịp theo, và đám học trò đồng thanh hát hết mình, giúp cho bài hát vang lên thật tuyệt vời từ đầu đến cuối. Thầy giáo hài lòng lắm, xoa xoa tay và còn kéo thêm một vài nhịp đàn khoẻ khoắn nữa, thầy vui vẻ nói: "Cây đàn này cũng là một nhạc cụ rất khá."



Chương 3

Cây vĩ cầm của người thầy giáo già


Ở trước cửa lớp, Stineli và Rico mau chóng tách ra khỏi đám trẻ ầm ĩ và cùng rảo bước về. "Cậu đã kinh ngạc quá đỗi hay sao mà không hát theo hả Rico?", Stineli lên tiếng hỏi. "Hay là cậu đột nhiên nghĩ đến hồ nước vậy?"

"Không phải, thứ khác cơ", Rico đáp; "Giờ tớ biết được cách chơi bài 'Chú cừu non' rồi. Ước gì tớ có một cây vĩ cầm nhỉ!"

Có lẽ mong ước đó phải khiến Rico bận lòng lắm, cậu bé thổ lộ điều ấy kèm theo cái thở dài não nề. Stineli tức khắc trở nên hào hứng và tràn đầy ý tưởng hay ho.

"Chúng mình sẽ mua một cây đàn", cô bé đột ngột kêu lên, phấn khởi về ý nghĩ vừa xuất hiện này. "Tớ có rất nhiều đồng Blutzger mà bà cho, tầm mười hai đồng; còn cậu?"

"Chẳng có nổi một đồng", Rico rầu rĩ; "cha có đưa tớ vài đồng trước lúc cha đi xa. Nhưng bác tớ bảo rằng tớ sẽ chỉ làm ra chuyện vô bổ với số tiền đó mà thôi, thế nên bác ấy cất chúng tít trong cái thùng ở trên cao rồi; chẳng thể lấy được nữa đâu."

Song, Stineli không sớm nản chí đến vậy. "Có thể chúng mình đang có đủ tiền đấy, với lại, bà sẽ còn cho tớ thêm một ít nữa mà", cô bé an ủi; "cậu biết không hả Rico, một cây vĩ cầm chẳng đắt mấy đâu; nó chỉ là khúc gỗ cũ kĩ với bốn dây đàn căng trên đó thôi, không đắt đâu. Ngày mai cậu chỉ cần hỏi thầy giáo giá của nó là được, sau đó chúng mình sẽ tìm mua một cây."

Hai đứa thỏa thuận thế, và Stineli nghĩ: cô bé sẽ về nhà - điều duy nhất cô bé có thể làm -, rồi hôm sau thức dậy thật sớm nhóm lửa, trước cả khi mẹ dậy; vì cứ lần nào cô bé làm việc chăm chỉ từ sáng sớm đến tối muộn là bà lại nhét một đồng Blutzger vào túi của cô bé.

Buổi sáng ngày tiếp theo, sau khi tan học, Stineli ra khỏi lớp một mình, đến đứng chờ ở một góc trường, đằng sau đống gỗ, Rico giờ này có lẽ đang hỏi chuyện thầy giáo về cây đàn. Mãi không thấy cậu bé đi ra, Stineli sốt ruột lấp ló nhìn ra từ sau đống gỗ, vẫn chỉ có mấy đứa con trai khác đứng tản mác quanh đó. Nhưng kìa ... đúng rồi, Rico đang đi vòng qua đống gỗ. Cậu ấy đây rồi.

"Thầy bảo sao, giá bao nhiêu?", Stineli nín thở chờ đợi.

"Tớ đã không cất nổi lời để hỏi", Rico chán chường.

"Ôi, tiếc thế!", Stineli nói, đứng chưng hửng, nhưng chỉ một lúc thôi. "Không sao đâu mà, Rico", cô bé hớn hở trở lại, nắm tay cậu để cùng về, "mai cậu hỏi vẫn được. Tớ được bà cho thêm một Blutzger nữa đấy, sáng sớm nay, tại lúc bà vào bếp, tớ đã có mặt ở đó rồi."

Ấy vậy nhưng hôm sau, rồi hôm sau nữa vẫn không có gì thay đổi; Rico vẫn nán lại cả nửa giờ đồng hồ trước căn phòng thầy giáo ở, không thể bước vào hỏi thầy. Khi ấy, Stineli đã nghĩ thầm: Nếu suốt ba ngày trời mà cậu ấy vẫn còn không hỏi thì mình sẽ là người hỏi. Tuy nhiên, vào ngày thứ tư, lúc Rico lại đang đứng phân vân, ngần ngại bên cửa thì cánh cửa bất ngờ bật mở, và thầy giáo vội vàng bước ra, đâm sầm vào Rico, làm cậu bé nhỏ con ngã văng ra sau cả đoạn. Thầy đứng nhìn với vẻ sửng sốt cực kì và khá là bực bội. "Chuyện gì thế hả, Rico?", thầy hỏi lúc cậu bé đứng lên. "Vì cớ gì em đứng đó mà không gõ cửa, nếu như em có việc cần; còn không thì sao em vẫn chưa chịu đi? Nếu muốn báo gì với thầy, em có thể báo ngay ở đây. Sao nào?"

"Một cây vĩ cầm giá bao nhiêu ạ?", Rico sợ quá, cuống cuồng thốt ra câu hỏi. Vẻ ngỡ ngàng đầy phê phán nơi thầy giáo tăng lên rõ rệt. "Rico, thầy phải nghĩ thế nào về em đây?" thầy nghiêm khắc hỏi; "em bỗng dưng đến bên cửa phòng thầy giáo mình để đặt một câu hỏi vớ vẩn vậy ư? Hay là em có ý gì khác? Em muốn nói điều gì với câu hỏi đó?"

"Em không định nói gì hết ạ", Rico sợ sệt đáp lại, "em chỉ muốn hỏi giá của một cây vĩ cầm thôi."

"Em không hiểu rồi, Rico; giờ hãy nghe cho kĩ điều thầy sắp nói đây: một người nói ra điều gì đó thì luôn có sẵn một ý định với điều ấy; hoặc giả như anh ta chả có sẵn ý định gì thì đó chỉ là những lời vô nghĩa. Nghe này, Rico: em vừa mới vô cớ đặt ra câu hỏi này hay vì em tò mò, hay có ai đã bảo em hỏi và bản thân người đó rất muốn mua một cây vĩ cầm chăng?"

"Em muốn mua một cây vĩ cầm", Rico nói dõng dạc hơn chút ít; nhưng cậu hoảng hốt lắm, khi thầy đột nhiên bừng bừng giận dữ, quát: "Cái gì? Cậu nói gì hả? Một đứa nhóc... ngoại quốc, không biết suy nghĩ, hết thuốc chữa như cậu mà muốn mua đàn sao? Cậu hiểu vĩ cầm là cái gì không? Cậu có biết tôi bao nhiêu tuổi, đã học hành được những gì trước khi mua được cho mình một cây vĩ cầm không hả? Khi đó, tôi là giáo viên, một giáo viên đích thực, đã hai mươi hai năm trời trong nghề! Còn một đứa nhóc như cậu ư! Giờ tôi sẽ bảo cho cậu biết một cây vĩ cầm giá bao nhiêu, để cậu hiểu được mình dốt nát thế nào. Sáu đồng Gulden, tôi đã trả đúng sáu đồng Gulden cho cây đàn của tôi, cậu có khả năng có được số tiền đó không? Hãy thử đổi ra đồng Blutzger đi: Mỗi đồng Gulden bằng 100 đồng Blutzger, như vậy 6 Gulden x 100 được bao nhiêu?... bao nhiêu?... Nào Rico, bình thường cậu không phải là đứa chậm hiểu mà,... bao nhiêu?"

"600 Blutzger ạ", Rico lí nhí trả lời, nỗi hoảng sợ đã lấy mất giọng nói của cậu bé, lúc này đây, cậu bé đang hình dung ra số tiền ấy và so sánh với mười hai Blutzger của Stineli.

"Vậy thì, cậu nhóc", thầy tiếp tục theo mạch đối thoại, "em nghĩ sao? Em cho rằng người ta chỉ đơn giản cầm lấy một cây vĩ cầm và chơi thôi sao? Trong chuyện này, ta cần phải có quá trình chuẩn bị khác đi, cho tới khi bản thân đã sẵn sàng. Vào trong này mau xem nào" - và thầy giáo mở cửa, lấy cây vĩ cầm treo trên tường -; "đây, thử cầm đàn cùng với cây vĩ đi; rồi, cậu nhóc, nếu giờ em chơi được đúng các âm c d e f, tôi sẽ lập tức đưa ngay cho em một nửa Gulden."

Rico đang thực sự có cây đàn trong tay đây rồi, hai mắt cậu bé sáng lên hệt như ngọn lửa. c d e f... cậu kéo đàn ổn định và chuẩn xác. "Sáng dạ quá sức!", thầy giáo thốt lên thán phục, "Tại sao em chơi được? Ai đã dạy em? Làm thế nào em biết được những âm đó?"

"Em còn có thể chơi hơn nữa ạ, nếu em được phép", Rico nói và nhìn thứ nhạc cụ trong tay mình với vẻ khao khát.

"Vậy hãy chơi đi!", người thầy ra dấu. Rico liền chơi đàn với tất cả sự tự tin cùng đôi mắt lấp lánh hân hoan:

"Chú cừu non lững thững đi xuống từ ngọn đồi đầy nắng. Ngày đã tàn. Xin tạm biệt ngày hôm nay!"

Thầy giáo đã đặt mình ngồi lên ghế, đeo thêm cặp kính. Ông quan sát kĩ lưỡng những ngón tay Rico, chuyển sang đôi mắt vẫn đang lóe sáng của cậu học trò, rồi lại quay trở về với mấy ngón tay. Rico đã hoàn thành bản nhạc.

"Lại thầy bảo, Rico!"

Thầy giáo xích chiếc ghế vào vùng sáng, Rico phải đứng ngay trước mặt thầy. "Bây giờ, thầy phải có đôi lời với em đây. Cha em là người ngoại quốc, Rico ạ, và em thấy đấy, ở dưới kia có đủ chuyện diễn ra mà những người ở vùng núi như chúng ta chẳng biết tí chút nào. Giờ em hãy nhìn vào mắt thầy, thẳng thắn và thành thật nói thầy nghe: Bằng cách nào em chơi được giai điệu này với cây vĩ cầm của thầy một cách trơn tru thế?"

Rico nhìn người thầy bằng ánh mắt hoàn toàn chân thật, đáp lại: "Em đã học từ Thầy đấy ạ, trong giờ Âm nhạc, chúng ta đã hát bài ấy rất nhiều lần mà."

Những lời này khiến cho toàn bộ sự việc chuyển sang một hướng khác. Thầy giáo đứng lên, đi qua đi lại mấy lượt. Vậy ra chính ông là nguồn gốc của điều kì diệu này; mà trong lúc cậu bé kéo đàn còn không hề có lấy một bản nhạc nào ở trước mặt cả. Với tâm trạng đã dịu trở lại, ông lôi cái bóp của mình ra: "Nửa Gulden đây, Rico, nó xứng đáng thuộc về em. Hãy cứ tiếp tục như vậy và thật chú tâm vào việc chơi đàn nhé, chừng nào còn đi học, nếu thế thì rồi em sẽ có thể đạt được một thành quả nào đó, chừng mười hai tới mười bốn năm nữa, và lúc đó, em cũng sẽ có khả năng mua cho mình một cây vĩ cầm. Giờ em đi được rồi đấy."

Rico liếc nhìn cây đàn thêm lần nữa, sau đấy, cậu bé rời đi cùng nỗi buồn nặng trĩu trong lòng.

Stineli chạy ra từ sau đống gỗ: "Lần này cậu ở lại lâu quá đấy, cậu hỏi thầy giáo chưa?"

"Chấm dứt cả rồi", Rico nói, trước nỗi buồn ấy, lông mày cậu bé nhíu lại gần nhau đến nỗi làm xuất hiện một đường liền đậm, đen ngay trên đôi mắt. "Một cây vĩ cầm có giá sáu trăm Blutzger, và mười bốn năm nữa tớ có thể mua được một cây, khi mà hết thảy mọi thứ đều đã chết rũ từ lâu; mười bốn năm sau thì ai còn muốn sống trên đời nữa chứ. Đây, cậu cầm đi, tớ không muốn nó." Cậu ấn nửa Gulden vào tay Stineli.

"Sáu trăm Blutzger ư!", Stineli sửng sốt lặp lại. "Nhưng cậu có ở đâu ra nhiều tiền thế này?"

Rico bèn kể mọi chuyện diễn ra ở chỗ thầy giáo, và tiếp tục kết lại bằng câu nói thống khổ: "Giờ thì chấm dứt cả rồi."

Stineli muốn ép cậu bạn ít nhất hãy nhận nửa Gulden, coi như chút xíu an ủi; có điều cậu bé nổi xung lên với đồng tiền vô tội, không muốn ngó ngàng đến nó.

Stineli liền bảo: "Vậy thì tớ tính nó vào chỗ những đồng Blutzger của tớ, rồi chúng mình sẽ cùng chia sẻ toàn bộ số tiền ấy với nhau, chúng thuộc về cả hai đứa chúng mình."

Lần này đến cả Stineli cũng thấy nản lòng; nhưng khi cô bé cùng Rico đi vòng qua góc tường, chỗ dẫn vào cánh đồng, thì thấy cả con đường đi bộ nhỏ hẹp khô ráo trải dài dưới ánh mặt trời tới tận cửa nhà, và chốn nhỏ xinh ấy cũng lấp lánh một màu sáng trắng, khô cong, Stineli thốt lên:

"Nhìn xem, nhìn xem, hè đến rồi này, Rico, chúng ta lại có thể lên rừng; rồi cậu sẽ lại thấy vui vẻ thôi. Chủ nhật chúng ta đi luôn nhé?"

"Chẳng gì khiến tớ vui được nữa đâu", Rico nói; "nhưng nếu cậu thích thì tớ cũng sẽ đi cùng mà."

Bên cửa nhà, hai đứa còn bàn bạc sôi nổi một lúc, chủ nhật cả hai sẽ băng qua đồng cỏ tới ngọn đồi, và niềm phấn khởi ấy đã sớm vây lấy Stineli. Suốt cả tuần, cô bé làm những công việc trong khả năng của mình, và đã có rất nhiều việc cần phải lo; Peterli, Sami và Urschli bị sốt phát ban, còn một con dê cái trong chuồng nuôi thì bị bệnh, thường xuyên cần đến nước nóng, và Stineli phải chạy đi chạy lại, động tay vào mọi việc ngay khi tan học về, rồi làm nguyên cả ngày thứ bảy, đến tối muộn, cô bé vẫn còn phải cọ rửa cái xô trong chuồng nữa. Tối ấy, cả cha cũng đã nói: "Con bé Stineli tháo vát lắm."



Chương 4

Hồ nước xinh đẹp không tên nơi xa xôi


Buổi sáng ngày chủ nhật, vừa mở mắt tỉnh giấc, Stineli đã thấy trái tim mình rộn rã mà ban đầu cô bé không hiểu tại sao, cho tới khi nhớ ra hôm nay là chủ nhật và lúc tối muộn ngày hôm qua bà đã bảo: "Mai cháu phải có ngày chủ nhật của riêng mình, cả buổi chiều mai sẽ là của cháu!"

Sau khi cả nhà dùng xong bữa trưa, chén đĩa, bàn ăn cũng đã được Stineli dọn dẹp, thì Peterli cất tiếng gọi: "Lại chơi với em đi, chị Stineli!", hai đứa em khác gào lên trên giường: "Không, chơi với em cơ!", còn cha lại bảo: "Stineli, con phải trông chừng con dê cái đấy." Thế nhưng, bà từ trong bếp đi ra, vẫy gọi Stineli. "Giờ cháu đi tận hưởng tự do đi", bà nói, "bà sẽ để mắt đến con dê và mấy đứa nhỏ, khi nào nghe thấy tiếng chuông cầu nguyện thì các cháu phải ngoan ngoãn trở về nhé." Bà biết trước là hai đứa trẻ sẽ đi cùng nhau. Stineli liền chạy vụt đi như chim được xổ lồng, phía nhà đối diện, Rico đã đứng chờ sẵn từ lâu. Hai đứa khởi hành ngay, băng qua đồng cỏ, hướng lên ngọn đồi. Mặt trời rọi nắng lên hết thảy mọi ngọn núi, vòm trời xanh ngắt ở trên cao. Ở phía râm mát, hai đứa trẻ còn phải đi một đoạn trong tuyết cho tới khi lên đến ngọn đồi, nhưng lúc cả hai lên đến nơi thì mặt trời ló dạng, tỏa sáng lấp lóa bên trên hồ nước, soi tỏ những khoảnh nhỏ xinh xinh, khô ráo nơi triền đồi dốc đứng so với mặt hồ. Cả hai ngồi xuống; một cơn gió mạnh rít lên, tràn qua đồi, xào xạc bên tai chúng. Stineli hết sức vui sướng. Hết lần này tới lần khác, cô bé thốt lên:

"Nhìn kìa, nhìn kìa, Rico ơi, mặt trời ấy, đẹp quá đi! Mùa hè đến rồi; nhìn mặt nước hồ lấp lánh kìa. Chẳng thể có hồ nước nào đẹp hơn nó đâu", cô bé nói vẻ tin tưởng.

"Được rồi, được rồi, Stineli, cậu nên lặng im mà ngắm nhìn nó đi, tớ nói thật đấy!" và Rico hướng ánh mắt tuyệt vọng qua hồ nước, như thể thứ cậu bé đang muốn nhìn ngắm chỉ bắt đầu hiện hữu ở nơi mà tại đó người ta chẳng còn thấy bất cứ thứ gì nữa.

"Cậu thấy không, ở đó không có những cây lãnh sam lá sẫm, mà là những chiếc lá xanh bóng, những đóa hoa to lớn màu đỏ, núi thì không cao và tối tăm mấy, không ở quá gần, chỉ phía đằng xa kia, núi mới được bao phủ toàn một màu tím thôi, còn trên bầu trời, trên mặt hồ, mọi thứ đều ánh vàng, thật tĩnh lặng và ấm áp; gió không thổi mạnh, chân người không ngập trong tuyết, thế là ta lúc nào cũng có thể ngồi như thế này trên nền đất đầy nắng và ngắm nhìn."

Stineli chẳng mấy chốc bị mê mẩn; cô bé đã thấy những đóa hoa to lớn màu đỏ cùng mặt hồ vàng óng trước mặt mình, khung cảnh ở đấy hẳn phải đẹp lắm.

"Chưa biết chừng cậu có thể đến chỗ hồ nước ấy mà nhìn ngắm chúng lần nữa đấy; cậu biết đường không?"

"Phải đi lên đèo Maloja. Đã có lần tớ đứng trên đèo cùng với cha rồi: cha chỉ cho tớ con đường lớn đi xuống, nó cứ đổi hướng ngang dọc luôn, và tít phía dưới là hồ nước, nhưng xa lắm, gần như không sao đến được."

"À, việc đó dễ thôi", Stineli nói, "nếu cậu cứ đi tiếp, đi tiếp, cuối cùng thể nào cũng đến."

"Nhưng cha còn nói vài điều khác nữa cơ; này nhé, Stineli: nếu trên đường đi, cậu vào nghỉ chân trong một nhà trọ, ăn ngủ ở đó thì kiểu gì chẳng phải tốn kém, tức là cần có tiền."

"Ồ, giờ chúng ta có rất nhiều mà", Stineli hoan hỉ. Nhưng Rico thì không.

"Số tiền đó coi như con số không thôi, tớ đã rút ra được điều này từ chuyện cây vĩ cầm.", cậu bé buồn rầu.

"Vậy tốt hơn là cứ ở nhà, Rico ạ; nhìn đi, nơi đây cũng đẹp lắm mà."

Rico ngồi trầm ngâm một hồi, gối đầu lên khuỷu tay, hai lông mày lại nhíu lại. Rồi cậu quay sang Stineli, cô bé đang ngắt đám rêu xanh mềm, kết thành một chiếc giường con, hai cái gối cùng với một cái chăn để dành tặng em Urschli bị ốm ở nhà.

"Cậu bảo rằng tớ nên cứ ở nhà thôi, Stineli à", cậu bé nhăn trán nói; "nhưng cậu biết không, tớ lại đang có cảm giác như thể tớ chẳng rõ quê nhà là ở đâu."

"Hả, cậu nói gì vậy kìa", Stineli kêu lên, đồng thời ném cả một vốc đầy tay toàn rêu đi vì quá kinh ngạc. "Đây là quê hương của cậu, hiển nhiên rồi. Quê hương luôn là nơi có cha mẹ ..."; nói tới đây, Stineli đột nhiên im bặt: Rico không có mẹ, cha thì đã lại xa nhà lâu lắm rồi, thế còn người bác của cậu ấy thì sao nhỉ?... Stineli chưa bao giờ gần gũi lắm với người đó, bác ấy chưa từng dành cho cô bé một lời tử tế nào; cô bé hoàn toàn chẳng biết phải nói gì nữa. Song, cô bé không thể nào ở lâu trong trạng thái không chắc chắn như thế. Rico một lần nữa đang chìm trong ngỡ ngàng; bỗng nhiên, cô bé chộp lấy tay cậu bé:

"Tớ muốn biết điều này, hồ nước tuyệt đẹp đó tên là gì nhỉ?"

Rico ngẫm nghĩ. "Tớ chịu", cậu nói, bản thân cũng thấy sửng sốt về chuyện ấy. Stineli liền gợi ý rằng chúng nên hỏi ai đó về tên của hồ nước; vì nếu một ngày nào đó mà Rico có nhiều tiền để đi tới đấy được, cậu bé sẽ phải hỏi thăm đường, phải biết tên chỗ mình đến. Vậy là hai đứa bắt đầu nêu ý kiến xem nên hỏi ai; thầy giáo hay bà. Lúc này, Rico chợt nhớ ra rằng cha cậu sẽ là người biết rõ nhất; cậu định sẽ hỏi cha ngay khi cha trở về.

Thời gian đã trôi qua từ đó đến giờ và hai đứa đột nhiên nghe thấy một âm thanh khẽ vang lên ở xa xa. Cả hai biết âm thanh đó, nó là tiếng chuông cầu nguyện. Cả hai đứa lập tức bật dậy, nắm tay nhau chạy qua những lùm bụi cùng tuyết trắng xuống triền đồi dốc, vượt qua đồng cỏ, và tiếng chuông còn ngân thêm chút nữa, lúc hai đứa về đến cửa nhà, nơi bà đang ngóng đợi. Stineli phải trở vào nhà ngay, bà cô bé vội bảo: "Cháu cũng vào nhà cháu luôn đi, Rico ạ, và đừng có đứng lại trước cửa nữa đấy." Trước đây, bà chưa từng nói điều đó với cậu bé, cho dù cậu bé luôn luôn làm thế, bởi cậu chẳng bao giờ có mong muốn đi vào trong ngôi nhà ấy cả, cậu toàn đứng lại một lúc trước cửa đã rồi mới bước vào. Tuy vậy, lần này cậu nghe theo lời bà.



Chương 5

Căn nhà phiền muộn, hồ nước cũng có tên.


Bác không có trong phòng sinh hoạt, thế nên cậu bé lại đi ra khỏi phòng và mở cửa bếp. Bác đang đứng trong ấy; nhưng trước khi cậu bé kịp bước vào, bác đã giơ một ngón tay ra hiệu: "Suỵt! Suỵt! Đừng có đóng mở cửa rả và gây tiếng ồn cứ như là có cả mấy người đang cùng đến thế. Trở vào phòng và giữ yên lặng đi. Cha cháu đang nằm trong buồng xép trên kia; người ta đã chở cậu ấy về trên xe, cậu ấy ốm rồi."

Rico trở vào, ngồi trên cái ghế dài cạnh tường, không động đậy. Cậu bé ngồi thế đúng nửa giờ đồng hồ; người bác thì vẫn cứ đi lại quanh bếp. Lúc ấy, Rico nghĩ: cậu sẽ thật nhẹ nhàng ngó qua buồng cha xem sao, biết đâu tối nay cha muốn ăn gì đó, đã đến bữa tối lâu ghê rồi mà. Cậu bé nhẹ nhàng lên cầu thang ở đằng sau lò sưởi, bò vào trong căn buồng. Một lúc sau, cậu bé trở xuống, vào ngay bếp, đến gần bác. Cậu bé khẽ bảo: "Bác ơi, đi theo cháu!"

Người bác toan mắng cậu một trận khi bắt gặp gương mặt cậu: một gương mặt thất sắc, má và môi trắng bệch như tờ giấy, còn đôi mắt tối sầm khiến bác suýt phát hoảng.

"Cháu làm sao vậy hả?", bác cuống lên hỏi, miễn cưỡng đi theo cậu. Cậu bé nhẹ bước lên cầu thang, vào căn buồng xép. Người cha nằm trên giường với đôi mắt mở vô hồn; anh đã chết.

"Ôi, Chúa ơi!", bác hét lên rồi rầm rầm chạy tới cánh cửa dẫn ra hành lang, xuống dưới nhà, lập tức vào phòng sinh hoạt và cất tiếng gọi mọi người trong nhà hàng xóm cùng bà của Stineli sang, rồi từ đây, họ chia nhau tới gặp thầy giáo và người đứng đầu của vùng.

Một lát sau, hết người này đến người khác bước vào căn buồng nhỏ im ắng cho đến khi buồng chật kín, bởi vì mọi người đều đã truyền tai nhau tin tức về cha cậu bé. Giữa đám đông biết bao con người, giữa những lời than khóc của xóm giềng, Rico đứng đó cạnh giường, lặng phắc và bất động, nhìn cha. Suốt cả tuần, vẫn còn nhiều người ra vào ngôi nhà hàng ngày, họ tới nhìn mặt cha cậu bé cũng như nghe người bác kể đầu đuôi sự việc, vậy nên Rico đã được nghe đi nghe lại nhiều lần rằng: Cha cậu bé làm việc tại một công trình đường sắt dưới St. Gallen. Trong lúc cho nổ đá, đầu anh bị một vết thương sâu, vì không tiếp tục làm việc được nữa nên anh muốn về nhà tĩnh dưỡng cho đến khi khỏe hơn. Thế nhưng, anh đã không chịu được hành trình dài trở về - khi thì đi bộ, khi lại trên xe chở hàng không được che chắn -, tầm ban tối ngày chủ nhật, anh về tới nhà, đặt mình nằm lên giường rồi không tỉnh dậy nữa; anh ra đi mà chẳng ai kịp biết; bởi lúc Rico phát hiện ra, người anh đã cứng đờ.

Ngày chủ nhật sau đó, người đàn ông được chôn cất. Rico là người chịu tang duy nhất đi theo quan tài anh, vài người hàng xóm tốt bụng cũng đi cùng; đoàn người hướng đến làng Sils. Tại đó, Rico nghe thấy vị linh mục đọc to: "Người quá cố có tên Enrico Trevillo, sinh ra ở Peschiera bên hồ Garda." Khi ấy, Rico cảm giác như đang nghe về điều mình từng biết rất rõ song lại không sao chắp nối lại cho cụ thể được nữa. Hình ảnh hồ nước đó luôn hiện ra trước mắt cậu bé trong những lần ngồi hát cùng cha: "Una sera In Peschiera." Có điều, hồi ấy cậu bé không hiểu tại sao. Cậu bé đang phải lẩm nhẩm lại những cái tên, biết bao nhiêu bài hát xưa cũ theo đó xuất hiện trước mắt cậu bé. Sau khi một mình đi bộ về, cậu thấy bà ngồi trên khúc cây trước nhà, bên cạnh là Stineli. Bà vẫy cậu lại gần. Bà nhét một phần bánh mì nhân lê khô vào túi của cậu, như đã làm với Stineli trước đấy, rồi bà bảo hai đứa hãy đi dạo cùng nhau, ngày hôm nay Rico không nên ở một mình. Hai đứa trẻ cùng nhau bước vào không gian sáng sủa của buổi tối hôm ấy. Người bà ngồi lại, thương cảm dõi nhìn theo cậu bé mặc bộ quần áo đen cho đến khi hai đứa trẻ khuất dạng. Đoạn, bà lẩm bẩm với chính mình: "Không đâu, mọi điều Người đang làm và cho phép xảy ra cuối cùng cũng sẽ có một cái kết có hậu thôi!"



Chương 6

Mẹ của Rico


Thầy giáo chống gậy đi qua con đường từ làng Sils đến đây. Thầy đã tham dự lễ mai táng. Thầy ho và thở dốc, sau khi tiến đến cất lời chào bà của Stineli, thầy nói: "Nếu chị cho phép thì tôi sẽ ngồi cạnh chị một lát, tại cổ họng và ngực tôi đau quá; thế nhưng một kẻ sắp bảy mươi như tôi còn có thể nói gì được chứ, khi mà hôm nay đã chứng kiến người ta chôn cất một con người như vậy. Cậu ấy còn chưa đến ba mươi lăm tuổi, lại vững chãi như một cái cây."

Thầy giáo đã ngồi xuống bên bà.

"Cũng có điều khiến tôi phải suy nghĩ", bà nói, "ấy là việc tôi - một bà lão bảy mươi lăm tuổi - vẫn còn sống, trong khi ở đâu đó lại có một người trẻ tuổi phải xa lìa cõi đời, một con người có lẽ vẫn còn được cần đến trong cuộc sống."

"Người già cũng vẫn là những người hữu ích đấy chứ. Không thì lấy đâu ra ví dụ cho những người trẻ?", thầy giáo nhận xét. "Nhưng mà này, chị nghĩ sao, cậu bé con nhà bên ấy sẽ thế nào đây?"

"Phải rồi, thằng bé sẽ thế nào đây nhỉ?", bà nhắc lại; "tôi cũng đang thắc mắc điều đó, và nếu chỉ trông mong vào những con người nơi trần thế thôi thì tôi sẽ chẳng có câu trả lời. Song, ở trên thiên đường vẫn còn một người cha đang dõi theo những đứa trẻ cô độc. Người cũng sẽ tìm thấy một con đường dành cho thằng bé."

"Chị kể tôi xem, cậu người Ý ấy đã kết hôn với cô con gái bà hàng xóm của chị như thế nào? Ta chẳng bao giờ biết được gốc gác những người ngoại quốc ấy cũng như mọi chuyện xảy ra với họ cả."


Purchase this book or download sample versions for your ebook reader.
(Pages 1-19 show above.)